BÊ TÔNG CỐT THÉP CÓ KHẢ NĂNG CHỐNG LẠI SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ ẨM CAO

Ngày nay, bê tông cốt thép là dạng kết cấu được sử dụng rộng rãi nhất trong tất cả các loại hình xây dựng, giao thông, thủy lợi và là kết cấu chịu lực chính của công trình. Bê tông cốt thép được ví như một loại đá nhân tạo rất vững chắc giúp ích rất nhiều cho các công trình nhân sinh. 

| Tham khảo: Dịch vụ xây nhà trọn gói 

Bê tông cốt thép là gì ?

Vật liệu bê tông cốt thép là vật liệu hỗn hợp được hình thành bởi sự kết hợp giữa bê tông và thép, trong thành phần đó bê tông thép đều góp phần chịu lực, bê tông chịu nén và thép chịu kéo .

Kết cấu bê tông bình thường được đánh giá là không có khả năng chịu kéo ( cường độ chịu kéo bằng 1/10 lần cường độ chịu nén), điều đó được khắc phục bằng cách bổ sung thêm vật liệu thép kết hợp.Bạn đang xem: Bê tông cốt thép có khả năng chống lại sự tác động của độ ẩm


*

Thành phần cấu tạo bê tông cốt thép

Bê tông cốt thép được sản xuất do kết hợp 5 loại vật liệu chính: xi măng, cát, đá và nước, sắt thép. Trong đó cát được gọi là cốt liệu mịn và đá là cốt liệu thô.

Các loại vật liệu được trộn thành một hỗn hợp thống nhất, sau quá trình thủy hóa (đông cứng) thành một khối dạng đá. Bê tông chịu nén rất tốt nhưng khả năng chịu kéo yếu nên người ta kết hợp với cốt thép (dạng thanh rời hoặc lưới) để tăng sức bền chịu kéo.

Bạn đang xem: Bê tông cốt thép có khả năng chống lại sự ảnh hưởng của độ ẩm cao


*

Hỗn hợp bê tông mới trộn xong ở thể ướt và dẻo. Sau một thời gian ninh kết hỗn hợp đó đông cứng lại. Do đó người ta tiến hành đổ khuôn bê tông từ khi còn ướt, dẻo và nhận được sản phẩm rắn chắc sau đó. Hỗn hợp nguyên liệu vừa trộn xong được gọi là bê tông tươi. Trong bê tông, cốt liệu đóng vai trò là bộ khung chịu lực. Vữa xi măng bao bọc xung quanh hạt cốt liệu là chất bôi trơn, đồng thời lấp đầy khoảng trống giữa các hạt cốt liệu thành một khối dạng đá và hình thành bê tông.

Đặc tính của bê tông cốt thép

Bê tông cốt thép là loại vật liệu xây dựng hỗn hợp dưới dạng liên kết của bê tông và cốt thép, để chúng làm việc với nhau trong cùng một kết cấu. Khi bê tông cốt thép được đưa vào sử dụng, tức là chịu những tải trọng nhất định, mỗi loại vật liệu sẽ phát huy được đầy đủ tính năng và bổ sung cho nhau.

Bê tông chịu nén tốt nhưng không chịu lực kéo, trong khi thép chịu kéo tốt. Do đó người ta đặt thép ở vùng chịu kéo để tăng cường cường độ chịu lực của bê tông. Bê tông bọc ngoài thanh thép có tác dụng bảo vệ nó khỏi bị ăn mòn và có khả năng liên kết rất tốt với thép nên có thể xem như kết cấu đồng nhất về mặt chịu lực. Thép và bê tông có hệ số giãn nở gần giống nhau nên bảo đảm được tính toàn khối của bê tông cốt thép.

Bê tông cốt thép còn có đặc điểm là theo thời gian, cường độ chịu lực không bị giảm đi mà còn tăng lên, với điều kiện cốt thép không bị ăn mòn. Do đó cốt thép cần được bao kín, bê tông không bị rỗ khiến nước xâm thực làm rỉ thép. Thép không được sơn chống rỉ mà chỉ được bôi dầu, mỡ trong lúc chờ thi công.

Ưu điểm bê tông cốt thép

Ngày nay bê tông cốt thép được sử dụng trong hầu hết các kết cấu xây dựng của các công trình và còn được sử dụng trong nhiều năm nữa như là phương thức tối ưu.

Dễ dàng thi công

Người ta có thể trộn, đúc, hoàn thiện và bảo dưỡng bê tông để thành những kết cấu có hình dạng như ý muốn, kể cả những kết cấu lớn và phức tạp. Giá thành bảo quản, bảo dưỡng bê tông trong quá trình sử dụng lại thấp hơn hẳn các công trình bằng gỗ và sắt thép.

Độ chống chịu cực tốt, chịu nhiệt cao

Bê tông lại có những tính năng mạnh mẽ như bền vững, chống lửa tốt. Khi nhiệt độ bên tới 1000°C, nếu cốt thép có lớp bê tông bảo vệ dày 2,5 cm thì chỉ bị nung nóng lên 500 độ C Nhiều vụ cháy các công trình bền vững đã cho thấy nhiều phần kết cấu bê tông cốt thép chỉ bị hư hỏng ngoài mặt mà không bị phá hoại.


*

Bê tông cốt thép còn có cường độ chịu lực tương đối cao, có thể chịu được những lực động khá lớn như động đất, sóng gió, bom nổ, vv… và khả năng ngăn ngừa được các chất phóng xạ.

Độ bền cao

Tuổi thọ của nó cũng lâu dài hơn nhiều loại vật liệu khác do nó chồng được ảnh hưởng của thời tiết như mưa năng, nhiệt độ, độ ẩm. Nếu biết 99 dụng tốt thì kết cấu bê tông cốt thép có thể phục vụ được trong một thời gian dài không hạn định mà khả năng chịu lực không bị giảm, do cường độ của bê tông không những không bị giảm mà lại còn tăng lên theo thời gian. Cốt thép trong bê tông được bảo vệ không bị ăn mòn như các kết cấu thép trực tiếp chịu ảnh hưởng khí hậu và thời tiết.

Độ chống cháy tốt nhiều giờ

Két cấu bê tông cốt thép có thể chịu được nhiệt độ tới 400 độ C mà không suy giảm cường độ.

Nhược điểm bê tông cốt thép

Có trọng lượng nặng hơn các kết cấu khác như gạch ,đá, gỗ.

Tiến độ thi công dài hơn: Bê tông để ninh kết cần thời gian dài, thông thường 28 ngày mới đạt đủ cường độ, trong điều kiện sử dụng phụ gia tăng thời gian ninh kết có thể đẩy được nhanh thời gian thi công.

SỬ DỤNG BÊ TÔNG TUY CÓ BẤT LỢI LÀ TRỌNG LƯỢNG NẶNG, THỜI GIAN DƯỠNG HỘ THÀNH PHẦM BÊ TÔNG TRONG CỐP PHA KHÁ DÀI, CẦN NHIỀU CỐP PHA ĐẾ TẠO HÌNH NHƯNG BÊN CẠNH ĐÓ, ƯU ĐIỂM CỦA CÁC KẾT CẤU BẰNG BÊ TÔNG VẪN RẤT LỚN. TRONG MỘT THỜI GIAN DÀI NỮA, BÊ TÔNG VẪN SẼ LÀ LOẠI VẬT LIỆU X Y DỰNG CHIẾM ƯU THẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG.


Hiệu chỉnh: trân trọng cám ơn Đại tá, GS TSKH Nguyễn Đức Hùng, chủ tịch Hội ăn mòn và bảo vệ kim loại Việt Nam - đã hiệu chỉnh bài viết.Bạn đang xem: Bê tông cốt thép có khả năng chống lại sự tác động của mưa acid

Tóm tắt

Cốt thép trong bê tông bị ăn mòn điện hóa do khoảng trống trên bề mặt có hơi ẩm và không khí cũng như tác nhân ăn mòn tích tụ. Chất ức chế thẩm thấu MCI có thể thẩm thấu qua lớp bê tông hoặc trộn vào vữa có tác dụng bảo vệ cốt thép làm giảm tốc độ ăn mòn thép đến 30 lần. Nhờ đó độ bền, tuổi thọ của các công trình bê tông cốt thép tăng. Các nước phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, đặc biệt vùng nhiệt đới ẩm và công trình biển đảo đều chú ý sử dụng phụ gia MCI chống ăn mòn cốt thép bê tông để đảm bảo chất lượng, tăng tuổi thọ, đảm bảo an toàn và hiệu quả kinh tế của các công trình bê tông cốt thép.

Từ khóa: Bê tông cốt thép, ức chế thẩm thấu MCI, chống ăn mòn cốt thép, giảm tốc độ ăn mòn.Bạn đang xem: Bê tông cốt thép có khả năng chống lại sự tác động của bụi

1. GIỚI THIỆU CHUNG

Cortec Corporation có trụ sở tại bang Minesota, Hoa kỳ (Hình 1) là công ty công nghệ hàng đầu cung cấp giải pháp đồng bộ chống ăn mòn bảo vệ kim loại. Công ty sở hữu các patent công nghê về ức chế ăn mòn với nhãn hiệu thương mại (trademark) là VpCI và MCI. Trong lĩnh vực chống ăn mòn và bảo vệ cốt thép cho bê tông, Cortec đang là nhà cung cấp số 1 về sản lượng, chất lượng và tính đa dạng về chủng loại.

Hình 1. Trụ sở tập đoàn Cortec, Hoa kỳ

Như chúng ta đều biết, ăn mòn kim loại là một quá trình tự diễn biến tự nhiên dokhông bền vững nhiệt động học nên kim loại có xu hướng quay trở về dạng nguyên thể ban đầu là quặng của kim loại khi có tác động của môi trường như độ ẩm, không khí và các chất gây ăn mòn. Vì thế việc chống ăn mòn kim loại thực chất là tìm các giải pháp giảm tốc độ ăn mòn kim loại đến mức độ thiết kế có thể chấp nhận được. Cốt thép bê tông bị ăn mòn do có nhiều nguyên nhân như: thép đãbị rỉ trước khi đổ bê tông, hoặc bê tông chịu các xung lực trong quá trình sử dụng dẫn tới liên kết bám dính giữa bê tông và thép giảm, hình thành các khoảng trống tạo điều kiện cho không khí, độ ẩm và tác nhân ăn mòn gây tác dụng. Ăn mòn cốt thép bê tông cũng có thểdo chất lượng bê tông kém nên theo thời gian nước thấm vào bề mặt và gây ẩm cốt thép tạo điều kiện cho các quá trình ăn mònđiện hóa diễn ra. Hậu quả của quá trình ăn mòn điện hóa xảy ra trên bề mặt cốt thép trong bê tông sẽ tạo thành lớp rỉ: Fe
O và Fe2O3 làm tăng thể tích cốt thép từ 7 đến 10 lần đạt tới ứng suất làm nứt bê tông và phá hủy công trình. Các tác nhân khác gây ăn mòn cho cốt thép còn là quá trình cacbonat hóa từ khí CO2 tạo thành calcium carbonate cũng như sự xâm thực clo là chất gây ăn mòn rất mạnh.

CO3 + 2H2O

Hình 2 trình bày sơ đồ nguyên lý mô tả quá trình ăn mòn điện hóa của cốt thép trong bê tông. Hơi ẩm trong môi trường xi măng sẽ tạo thành màng dung dịch điện ly tạo thuận lợi cho quá trình ăn mòn điện hóa. Tại anot Fe bị ăn mòn tạo thành Fe(OH)2 còn tại catot oxy bị khử tạo thành OH-. Sự hình thành các hợp chất Fe
O và Fe2O3 từ Fe(OH)2 có thể tích lớn sẽ tạo ứng lực làm nứt vỡ bê tông (Hình 3)


*

*

Hình 3. Sơ đồ mô tả các bước phá hủy bê tông do cốt thép bị rỉ

Do công trình bê tông thường được xây dựng trong các môi trường ngầm dưới đất và nước, thậm chí nước mặn hoặc không khí có độ ẩm cao nên rủi ro xảy ra ăn mòn cốt thép theo cơ chế điện hóa là rất cao. Các cấu trúc bê tông chịu xung lực tác động thường xuyên khi sử dụng như chân đế máy phát điện gió, chân đế các tháp cao, móng nhà cao tầng, mặt đường băng máy bay, chân móng các cầu vượt sông, biển, bê tông hầm ngầm hoăc metro, đập thủy điện…có nguy cơ ăn mòn cốt thép do liên kết bám dính giữa cốt thép và bê tông bị giảm dần do xung lực, tạo khoảng không gian cho các tác nhân ăn mòn gây ra rỉ cốt thép dẫn đến nứt, vỡ bê tông. Hậu quả của quá trình ăn mòn cốt thép bê tông không chỉ làm giảm tuổi thọ công trình mà nguy hiểm hơn là làm giảm độ bền và đôi khi còn gây mất an toàn làm thiệt hại rất lớn về kinh tế. Vì vậy hiện nay với các công trình cần tuổi thọ lớn hoặc vĩnh cửu thì chất ức chế ăn mòn cho cốt thép trong bê tông luôn phải được dùng dưới dạng phụ gia bê tông.

2. CHẤT ỨC CHẾ CHỐNG ĂN MÒN THẨM THẤU (MCI)

Chất ức chế ăn mòn thẩm thấu được gọi chung là MCI (viết tắt của Migrating Corrosion Inhibitor) đã được Cortec Corporation phát minh ra và mang thương hiệu Cortec từ năm 1986 đến nay với nhiều chủng loại đa dạng cho nhiều mục đích sử dụng.MCI có bản chất giống như các chất ức chế ăn mòn pha hơi.Thế hệ đầu của MCI được chế từ amino-alcohol.

Tiếp theo thế hệ thứ hai là sự kết hợp của amine carboxylate + amino-alcohol và ngày nay thế hệMCI thứ ba được đa dạng hóa với thêm các công dụng như diệt khuẩn, chống thấm, hóa dẻo...

MDI được dùng trong 2 trường hợp là thi công công trình mới và sửa chữa các công trình bị rỉ cốt thép bê tông . Với công trình bê tông mới, MCI được sử dụng như phụ gia bê tông (Hình 4) hoặc phun quét lên cốt thép trước khi đổ bê tông.


Hình 4. Bê tông trộn phụ gia MCI

Việc sửa chữa công trình, nhất là móng, mà cốt thép đã bị rỉ thì MCI được dùng dưới dạng vữa trát lên bê tông và sau thời gian MCI sẽ thẩm thấu qua bê tông tới thép để ức chế ăn mòn là giảm tốc độ rỉ của thép (Hình 5). Trát lớp vữa MCI (màu xanh) lên bề mặt bê tông bị hỏng (Hình 5a) và MCI sẽ thẩm thấu qua bê tông theo nguyên lý mao dẫn. Nhờ tính năng phân tán và bay hơi nên MCI sẽ nhanh chóng tiếp cận đến bề mặt thép (Hình 5b). Do MCI có ái lực rất lớn với kim loại nên các phân tử MCI hấp phụ thành lớp màng ức chế bao bọc quanh cốt thép, ngăn cách thép tiếp xúc với các tác nhân ăn mòn. Màng ức chế có chứa nitơ và có điện trở cao, nên cũng có tác dụng làm giảm dòng điện ăn mòn. Ngoài ra Cortec MCI có thêm tính năng đặc biệt mà các MCI thông thường khác không có là khả năng phân cực thành các ion âm và dương, tiếp cận các khu vực điện tích trái dấu, làm cân bằng điện tích bề mặt do đó giảm tốc độ ăn mòn điện hóa (Hình 5d).


Hình 5. Sơ đồ sau mô tả khái quát cơ chế hoạt động của MCI trong sủa chữa cốt thép bi rỉ.

3.ĐO TỐC ĐỘ ĂN MÒN THÉP TRONG BÊ TÔNG


Hình 6. Nguyên lý thiết bị đo GalvaPulse (a) và thực hiện quá trình xác định tốc độ ăn mòn cốt thép bê tông (b)

Năm 2002 nhà nghiên cứu Thomas Frolund dùng thiết bị Galva
Pulse với nguyên lý điện hóa (Hình 6a) để tiến hành các thí nghiệm đo (Hình 6b) và lập dựng bảng dữ liệu mô tả sự liên quan dòng ăn mòn và tốc độ ăn mòn với thời gian có thểnhìn thấy bê tông bị hư hỏng (Bảng 1).

Bảng 1. Đánh giá thời gian xuất hiện hư hỏng công trình bê tông theo tốc độ ăn mòn

Từ kết quả Bảng 1 cũng cho thấy dòng ăn mòn và tốc độ ăn mòn xác định bằng thiết bị Galva Pulse đo được càng nhỏ thì thời gian xuất hiện hư hỏng sẽ càng dài.

4. ỨNG DỤNG MCI

Một phần tòa nhà Lầu Năm góc sau sự kiện 11 tháng 9 bị hư hỏng và khi tiến hành sửa chữa người ta phát hiện các cốt thép bị đã ăn mòn rất nhiều. Cortec Corporation được Lầu Năm góc mời đến xử lý với dự án bắt đầu 2003 và kết thúc 2012 (Hình 7). Cortec Corporation dùng vữa MCI trát lên các khu vực hư hỏng và cứ 3 đến 6 tháng 1 lần tiến hành đo tốc độ ăn mòn cốt thép bằng thiết bị GalvaPulse. Bảng 2 trình bày kết quả đo 2 thời điển năm 2005 cho thấy chỉ sau 3 tháng tốc độ ăn mòn cốt thép giảm từ 32,44 μm/năm xuống còn 1,11 μm/năm.

Hình 8 giới thiệu một số ứng dụng tiêu biểu của Cortec MCI cho các công trình tiêu biểu của thế giới như: a) phun lên cốt thép của móng tháp không lưu sân bay Barcelona, 2009, b) Tháp Buri Khalifa Dubai cao gần 800m với thể tích móng bê tông là 45.000m3 sử dụng Cortec MCI, 2005, c) Bê tông của tàu điện ngầm Singapore sử dụng Cortec MCI và d) Bến cảng Bilbao Tây Ban Nha sử dụng Cortec MCI, 2020

5. KẾT LUẬN

Cốt thép trong bê tông do không bám dính, dễ tạo khoảng trống với bê tông nên hơi ẩm, không khí và các tác nhân ăn mòn dễ tích tụ. Các phản ứng điện hóa trên bề mặt cốt thép làm thép bị ăn mòn tạo nên Fe
O và Fe2O3 có thể tích lớn gây nứt, vỡ bê tông và hư hỏng công trình. Ứng dụng chất ức chế thẩm thấu Cortec MCI tạo với cốt thép màng bảo vệ chống ăn mòn cho các công trình xây dựng mới hoặc sửa chữa công trình có cốt thép đã bị ăn mòn đều mang lại hiệu quả làm giảm tốc độ ăn mòn cốt thép đến 30 lần. Các nước phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển đều chú trọng ứng dụng phụ gia chống ăn mòn cốt thép MCI trong xây dựng các công trình quan trọng để tăng tuổi thọ, giảm nguy cơ mất an toàn cũng như tăng hiệu quả kinh tế. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm và bờ biển dài đang phát triển với việc xậy dựng nhiều công trình bê tông cốt thép quan trọng, đặc biệt vùng biển đảo nên cần sớm chú ý đến chất lượng, tuổi thọ và độ bền vững của các công trình bê tông cốt thép nên việc ứng dụng các chất chống ăn mòn cốt thép như MCI là cần thiết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. D. Bjegovic and B. Miksic, Migrating Corrosion Inhibitor Protection of Concrete, MP, NACE International, Nov. 1999.

2. Han-Seung Lee, Velu Saraswathy, Seung-Jun Kwon, Subbiah Karthick, Corrosion Inhibitors for Reinforced Concrete: A Review, Corrosion Inhibitors, Principles and Recent Applications, In Tech (2018), http://dx.doi.org/10.5772/intechopen.72572

3. Nguyễn Nam Thắng, Nghiên cứu ứng dụng canxi nitrít làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt thép cho bê tông cốt thép trong điều kiện Việt Nam, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Viện KHCN Xây dựng, Hà Nội, 2007.

Các công trình ở Việt Nam thường sử dụngtrần nhàbê tôngbởi sự chắc chắn, vững chãi. Thế nhưng, sau một thời gian, trần nhà bê tông thường bị xuống cấp nhanh chóng, mà dễ nhận thấy nhất là xuất hiện các vết ố vàng, mốc đen, xanh xám trên trần. Vì vậy, các giải pháp, cáchchống thấmtrần nhà bê tông cần được áp dụng để đảm bảo chất lượng công trình một cách tối ưu nhất!

Trần nhà bê tông là gì? Chống thấm trần nhà bê tông là gì?

Trần nhà bê tông đang là một xu hướng sử dụng vật liệu trên thế giới mà công trình theo đuổi. Vật liệu bê tông không chỉ tồn tại ở các bộ phận kiến trúc mà còn tham gia vào nội thất như các dạng bàn - ghế, quầy, giá, kệ… với vai trò là vật liệu kiến trúc, vật liệu trang trí.

Lbqc0bl
H0Hxro
Tkgs
T_Pmi
SPRy
Rz_BWv
B3Tdf
C30U" alt="*">

Bê tông trong thiết kế- xây dựng dân dụng

Vật liệu bê tông cốt thép ra đời ở châu Âu cuối thể kỷ 19 là một bước ngoặt trong lịch sử kiến trúc - xây dựng. Trần nhà bê tông gồm hỗn hợp vữa xi măng với đá hoặc sỏi kết hợp với thép đặt bên trong để tăng sức chịu lực.

Với việc sử dụng bê tông cốt thép vào trần nhà bê tông, những tòa nhà vươn cao hơn, những bức tường, cây cột nhỏ lại và hình thức kiến trúc trở nên phong phú đa dạng hơn. Bê tông cốt thép được sử dụng trong quá trình tạo hình đa dạng và biến hóa. Nguyên liệu tạo nên bê tông cốt thép có nhiều và dễ khai thác, chế biến trong tự nhiên (cát, sỏi, đá, xi măng, thép) nên giá thành của bê tông cốt thép tương đối rẻ, có khả năng ứng dụng rộng rãi ở nhiều địa bàn, địa hình với nhiều loại công trình khác nhau. Bởi vậy, chống thấm trần nhà bê tông sẽ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sử dụng ngôi nhà ở dân dụng như các mẫu nhà phố,biệt thự hiện nay!

Trần nhà bê tông cần được chống thấm để đảm bảo độ bền trong quá trình sử dụng lâu dài

Trần nhà bê tông có nét đẹp riêng bởi sự thô ráp và màu sắc đơn giản, đặc trưng là màu xám xi măng. Bên cạnh việc sử dụng chất liệu thực, không bị che giấu… phù hợp với quan điểm của một số trường phái kiến trúc. Tuy nhiên, để tạo nên bề mặt bê tông trần đẹp là không hề dễ khi trong quá trìnhthi côngđòi hỏi chất lượng bê tông chuẩn, cùng tay nghề thợ chuyên nghiệp. Tất cả các hệ thốngkỹ thuậtđi ngầm nằm trong bê tông phải được lắp đặt, đấu nối chuẩn xác trước khi tiến hành thi công đổ bê tông vào khuôn.

Những cách chống thấm trần nhà bê tông sao cho hiệu quả

Bên cạnh đó, nếu sử dụng bê tông trần thì quy trình thi công, cấu tạo các cấu kiện kiến trúc khác cũng phải tuân thủ theo hợp lý, như cửa, lan can, mái... Nhưng thực sự đang có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều loại vật liệu này, nó sẽ đem lại sự đa dạng trong các công trình kiến trúc và góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật trong cả thiết kế lẫn thi công.

Khi nào cần chống thấm trần nhà bê tông?

Bê tông là vật liệu thường thấy và cần thiết cho mỗi ngôi nhà, nhưng trong quá trình sử dụng trần nhà bê tông cần được chống thấm hợp lí. Khi sân thượng bị đọng nước lâu ngày sẽ dẫn tới hiện tượng thấm ẩm, rò rỉ nước vào nhà. Sau đó, trần nhà sẽ xuất hiện nhiều vết rạn chân chim, bị ngả màu, ố vàng hoặc một số nơi đọng nước nhỏ giọt làm hỏng trần nhà. Đó chính là lúc chúng ta cần chống thấm trần nhà bê tông.

LULKV_oi
DPf3ZI7mlhbrt
Oa
MQq
Oa
S_Jth
BTA" alt="*">

Nhà dột, cần chống thấm trần nhà bê tông

Tuy nhiên, "phòng bệnh hơn chữa bệnh", đừng để đến lúc trần nhà đã bị thấm dột rồi mới cuống quýt với các biện pháp xử lý chống thấm. Bạn cần tìm đến các đơn vị thi công chống thấm, hoặc xử lý đồng thời các biện pháp chống thấm trong và ngay sau khi xây dựng hoàn thiện ngôi nhà để hạn chế tối đa các hiện tượng thấm, dột sau khi hoàn thiện ngôi nhà.

Vì sao cần chống thấm trần nhà bê tông?

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng trần nhà bê tông bị rò rỉ, bong tróc. Tuy nhiên, chúng ta có thể kể đến các lí do cần chống thấm trần nhà bê tông như sau:

Do vật liệu, chất liệu xây dựng không tốt dẫn tới khi mưa, sàn nhà dễ bị nứt gãy, rạn nứt chân chim. Sau một vài năm sử dụng trần nhà bê tông sẽ có hiện tượng nứt sàn mái bê tông do co ngót bê tông, do sự chênh lệch nhiệt độ nắng mưa đột ngột, mùa hè nở ra, mùa đông co lại hay còn gọi là hiện tượng “Sốc nhiệt của bê tông”.

Hướng dẫn các cách chống thấm trần nhà bê tông mang lại hiệu quả sử dụng tối ưu nhất

Do sự thay đổi trong cấu trúc của các vật liệu bao quanh sàn mái dẫn đến hiện tượng tách lớp gây thấm. Nứt trần nhà bê tông do kết cấu lún, thép đan sàn bê tông mái không đạt yêu cầu, mác bê tông kém chất lượng. Nhà được chống thấm nhưng vẫn rò rì, rạn nứt bởi: chất chống thấm không tốt, không đạt đảm bảo chất lượng nên khi chịu tác động của thời tiết không có khả năng biến đổi trong môi trường.

Hiện tượng nhà nứt, rò rỉ nước cần chống thấm trần nhà bê tông

Không thử nước trước khi lát gạch tàu. Hệ thống thoát nước của sân thượng kém, bị đọng nước, thiết kế sân thượng không phù hợp cho việc sửa chữa. Đổ nối sàn bê tông mới vào sàn bê tông cũ, vị trí thấm là khe nối giữa sàn cũ và sàn mới (khe nối bê tông).

Trên đây là các nguyên nhân chính dẫn đến việc chống thấm trần nhà bê tông là cần thiết. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác dẫn đến việc thấm trần nhà bê tông như việc tự ý thay đổi kết cấu nhà, cải tạo nhà mà không hỏi ý kiến thiết kế, thi công.

Những cách chống thấm trần nhà bê tông đem lại hiệu quả

Hậu quả nếu không xử lý chống thấm trần nhà có thể đem lại

Đặc biệt, trần nhà cũng là thành phần thường xuyên phải chịu tác động trực tiếp từ môi trường, thời tiết, do đó, khả năng bị hao mòn, ngấm dột dễ dàng xảy ra. Chính vì thế, để hạn chế tối đa các hậu quả mà hiện tượng thấm, dột, nứt từ trần nhà đem lại, bạn cần phải biết đến các cách chống thấm trần nhà sao cho mang lại hiệu quả sử dụng cao nhất.

Các biện pháp, cách chống thấm trần nhà bê tông hiệu quả

Chúng ta có nhiều cách chống thấm trần nhà bê tông nhưng hiện tại trong nội dung dưới đây, chúng tôi sẽ hướng dẫn 3 cách chống thấm trần nhà bê tông như sau:

Chống thấm trần nhà bê tông bằng biện pháp thi công bằng Sikaproof Membrane

Chống thấm trần nhà bê tông

Sikaproof Membrane là vật liệu chống thấm dạng màng lỏng bitum polyme cải tiến gốc nước, một thành phần, thi công nguội. Sikaproof Membrane có tác dụng như lớp chống thấm bên dưới lòng đất cho các bề mặt bê tông và vữa trát, dùng để chống thấm sàn mái phẳng, ban công, tầng hầm, tường, v.v…

Sikaproof Membrane là vật liệu có thể dễ dàng mua và sử dụng trong quá trình chống thấm trần nhà bê tông. Vật liệu này có giá thành thấp với nhiều ưu điểm như dễ thi công bằng chổi hay bình phun hay khô nhanh tạo thành một lớp phủ bền và linh hoạt; kết dính tuyệt hảo và lấp kín các vết nứt. Thiết kế của vật liệu này dễ sử dụng trên các kết cấu cũ và mới cũng như không chứa dung môi; không mùi và không bị dính tay.

Chống thấm trần nhà bê tông bằng cách thi công bằng màng chống thấm tự dính hay khò nóng

Một cách chống thấm trần nhà bê tông khác mà nhiều hộ gia đình sử dụng là việc thi công bằng màng chống thấm nguội hay khò nóng.

Chống thấm trần nhà bê tông bằng màng chống thấm tự dính

Màng chống thấm tự dính thường có dạng tấm và được phủ một lớp màng HDPE mỏng lên trên bề mặt. HDPE là Hight Density Poli Etilen; là một loại nhựa chịu nhiệt rất tốt trong môi trường những chất lỏng cũng như dung dịch hay phải gặp trên đường dẫn, đất cấp thoát nước. Nó không bị thể rỉ và không bị tác động dưới các dung dịch như muối, axít và kiềm, kể cả trong nước mưa axít. Mặt còn lại được bảo vệ bởi một lớp màng silicon.

Chống thấm bằng màng tự dính có hiệu quả là chống thấm dột triệt để, thi công đơn giản, dễ dàng. Chúng ta chỉ cần bóc lớp vỏ silicon là có thể dán trực tiếp, an toàn và nhanh chóng hơn màng chống thấm khò nhiệt vì không cần sử dụng đến nhiệt để tạo độ dính với khả năng bám dính cực tốt trên bề mặt thi công khi nhiệt độ thay đổi. Chất liệu này có thể ứng dụng rộng rãi trong chống thấm trần nhà bê tông, chống thấm cầu đường, hầm, cống,…Chống thấm bằng màng dính có ưu điểm an toàn với sức khỏe với con người và thân thiện với môi trường, không có hóa chất độc hại gây ô nhiễm, không kén chất liệu thi công.

Xem thêm: Siêu thị bán đồ nhật - siêu thị nhật bản japana

Nhược điểm của màng tự dính trong chống thấm trần nhà bê tông sẽ xuất hiện mối nối giữa các tấm màng. So với một số vật liệu khác, đây không phải là giải pháp mang đến độ bền và tuổi thọ cao nhất.

Đối ngược với dòng vật liệu trên, chống thấm trần nhà bê tông còn thường sử dụng màng khò nóng lại được nhắc đến với các điểm khác biệt. Màng chống thấm khò nhiệt hay còn gọi là màng chống thấm khò nóng gốc Bitum là màng chống thấm dẻo, được sản xuất từ hỗn hợp giàu bitum và hợp chất polymers APP được chọn lọc (Atactic Poly Propylen), có khả năng chịu nhiệt, chống tia tử ngoại UV và khả năng chống thấm cao. Ưu điểm của màng khò nóng trong thi công chống thấm cũng như chống thấm bằng màng tự dính như chống thấm dột gần như tuyệt đối cho bề mặt thi công; an toàn, thân thiện với sức khỏe và môi trường xung quanh, không độc hại. Với tính ứng dụng cao: chống thấm khe tường tiếp giáp, chống thấm sân thượng, chống thấm hồ chứa nước, bể chứa nước,…

Hướng dẫn cách chống thấm sàn bê tông mang lại hiệu quả sử dụng

Nhược điểm của kỹ thuật chống thấm dột bằng màng khò nóng là thi công phức tạp, đặc biệt là ở vị trí mối nối của các tấm màng. Bên cạnh đó còn cần thêm kỹ thuật gia nhiệt, khò nóng chảy để tạo kết dính. Và tuổi thọ cũng như độ bền cũng chỉ ngang bằng các loại màng tự dính.

Chống thấm trần nhà bê tông bằng bằng nhựa đường

Khi chống thấm trần nhà bê tông bằng nhựa đường, chúng ta cần có lưu ý như cần phải đảm bảo làm sạch bề mặt bằng lớp lót Primer gốc nhựa đường (không có bụi bẩn và khô ráo)

Hướng dẫn các cách chống thấm trần nhà bê tông đem lại hiệu quả tối ưu nhất

Nếu sử dụng tấm dán nhựa đường thì phải dán thẳng hàng, không cuốn nếp. Các vạt bên liền kề dán chồng lên nhau 10cm, vạn cuối dán chồng 15cm. Tại các vị trí giao với tường phải dán lên tường 15cm

Gia cố các điểm yếu như chân tường giao với sàn, cổ ống thoát nước,khe lún bằng lớp primer gốc nhựa đường.

Lưu ý: Cách chống thấm cho các kiểu mái nhà:

Đối với mái nhà ngói hoặc tôn

Trường hợp dùng tôn hoặc ngói lợp nhà thì nguyên nhân dẫn đến thấm nước là do ngói bị vỡ, dấu đinh đóng hoặc tại các điểm mối nối dẫn đến thấm nước khi mùa mưa đến.

Trong trường hợp mái tôn thì bạn dùng vít đinh đóng chặt vào để không cho nước thấm vào bên dưới. Ngoài ra, bạn có thể kết hợp với sơn chống thấm để sơn lên chỗ đinh vít đóng trên mái toen sẽ giúp chống thấm hiệu quả hơn.

Đối với nhà mái bằng

Thông thường nhà mái bằng thì sẽ ít bị thấm dột hơn, trường hợp bị dột thì nguyên nhân là do vật liệu làm mái có những lỗ nhỏ li ti mà mắt thường không nhìn thấy được. Vì vậy, sau một thời gian dưới sự tác động của điều kiện thời tiết làm cho những lỗ này to ra làm mái nhà bạn bị thấm nước.

Đối với trường hợp này bạn có thể dùng sơn chống thấm để sơn qua chỗ trần nhà bị dột, ưu điểm của loại sơn này là khô nhanh và giúp chống thấm hiệu quả.

Hướng dẫn các bước tiến hành chống thấm trần nhà bê tông

Bước 1: Chuẩn bị bề mặt:

Chuẩn bị bề mặt tốt là điều quan trọng để đạt được chất lượng chống thấm tối ưu. Chúng ta cần vệ sinh sạch sẽ bề mặt của sân thượng, sàn mái, ban công. Trần nhà bê tông trong quá trình sử dụng thường xuyên bám bẩn, bám rêu dẫn tới rò rỉ nước nên việc chống thấm trần nhà bê tông là việc rất cần thiết. Vì vậy, việc đầu tiên trong quá trình chống thấm là bề mặt phải chắc, cứng, sạch, không có bụi bẩn, dầu, mỡ hay các chất bẩn khác. Sau đó thi công trực tiếp trên bề mặt bê tông là cách thức tối ưu nhất, do bê tông cứng nên độ bền lớp chống thấm dột sẽ rất cao.

Đối với các căn nhà khi xây dựng nếu chúng ta không quan tâm đến những vấn đề như chống thấm thì ngay từ lúc mới xây, kiến trúc hạ tầng sẽ bị nghiêm trọng vì có thể dẫn đến bong tróc lớp sơn tường thấm nước gây mất đi vẻ thẩm mỹ và gây hại đến các liên kết cấu ngôi nhà. Vì vậy, kiến trúc Angcovat luôn thiết kế những mẫu nhà tối ưu trong suốt toàn bộ các giai đoạn.

Bước 2: Chống thấm trần nhà bê tông

Tạo một lớp vữa mỏng quét lên bề mặt sàn bê tông để lấp kín những vết rạn nứt của sân thượng. Trên thị trường có nhiều loại vữa, các bạn có thể chọn tùy loại vữa trong quá trình sử dụng cho phù hợp. Sau đó cũng quét 2 lớp lên bề mặt bê tông, đợi lớp đầu tiên khô mới quét lớp thứ 2, mỗi lớp cách nhau từ 1 – 2 giờ đồng hồ.

Hướng dẫn quy trình chống thấm trần nhà bê tông đem lại hiệu quả sử dụng

Bước 3: Chống thấm trần nhà bê tông hiệu quả

Đợi 3 – 4 tiếng sau khi lớp vữa chống thấm khô, chúng ta sẽ phun dung dịch chống nước lên toàn bộ sàn bê tông và chân tường gạch của sân thượng. Chú ý nên phun 2 lớp, mỗi lớp cách nhau từ 3 – 4 phút, phun phải đều và đảm bảo ướt mặt sàn. Phun chân tường cao lên khoảng 15 – 20 cm.

Hướng dân các bước chống thấm trần nhà bê tông mang lại hiệu quả

Bước 4: Cuối cùng chúng ta kiểm tra kết quả công việc, tiến hành bảo dưỡng sân thượng thường xuyên.

Hiện tượng ăn mòn kết cấu bê tông là một vấn đề rất nghiêm trọng, nó ảnh hưởng lớn đến độ an toàn của công trình, đến sức khỏe và tính mạng của người thi công xây dựng. Vấn đề này đã và đang được xem là một trong những thách thức lớn với ngành xây dựng dân dụng ngày nay. Môi trường không ngừng tác động đến các kết cấu của bê tông. Làm thế nào để ngăn chặn sự ăn mòn kết cấu bê tông cốt thép, góp phần vào việc bảo vệ an toàn kết cấu công trình.Bạn đang xem: Bê tông cốt thép có khả năng chống lại sự tác động của độ ẩm

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự hư hỏng trong kết cấu của bê tông chính là sự ăn mòn cốt thép trong môi trường biển, môi trường trong các nhà máy hoá chất.

1. Nguyên nhân ăn mòn bê tông và kết cấu thép trong môi trường biển.


*

Có thể nói rằng Bê tông cốt thép là vật liệu phổ biến và thành công nhất trong lịch sử ngành xây dựng với xấp xỉ 12 tỉ tấn bê tông được sản xuất hằng năm, nhiều hơn bất kỳ vật liệu nhân tạo nào trên thế giới. Thông thường, khi kết cấu bê tông được thiết kế phù hợp và được đúc cẩn thận, kết cấu luôn bền vững trong suốt tuổi thọ làm việc.

Bình thường, cốt thép được bảo vệ hoàn toàn trong môi trường kiềm của bê tông nhờ vào hàm lượng lớn của canxi oxit, natri oxit và kali oxit hoà tan. Các hợp chất kiềm trong bê tông giữ độ pH ở mức 12-13 giúp tạo nên một lớp màng bảo vệ mỏng trên bề mặt cốt thép. Trong điều kiện thông thường, lớp màng mỏng có khả năng bảo vệ cốt thép chống lại sự tấn công của các tác nhân ăn mòn từ môi trường. Cơ chế này được gọi là “cơ chế bảo vệ thụ động” của cốt thép, có hai cơ chế có thể phá vỡ sự tự bảo vệ của kết cấu bê tông cốt thép và được xem như là tác nhân chính dẫn đến ăn mòn của cốt thép trong bê tông. Đó là hiện tượng cacbonat hoá và sự xâm nhập của ion clorua.

* Quá trình Carbonat hoá trong bê tông

Sự tập trung hàm lượng dung dịch Canxi hydroxit hoà tan (Ca(OH)2) trong các lỗ hổng của kế cấu bê tông là kết quả của quá trình thuỷ hoá xi măng giúp giữ độ p
H ở ngưỡng an toàn 12-13. Như đã nói, trong môi trường kiềm, cốt thép hoàn toàn được bảo vệ khỏi các tác nhân ăn mòn nhờ vào lớp màng mỏng trên bề mặt (dày từ 2-20 nanomét). Tuy nhiên, quá trình carbonat hoá với sự hiện diện của CO2, nước và Ca(OH)2 tạo nên canxi carbonat và trung hoà môi trường kiềm trong bê tông theo phản ứng dưới đây:

CO2 + H2O + Ca(OH)2 à Ca
CO3 (calcium carbonate) + 2H2O

Sau quá trình trung hoà, khi độ p
H trong bê tông giảm xuống dưới mức 9, cơ chế “tự bảo vệ thụ động” của bê tông không còn tồn tại và cốt thép bắt đầu bị ăn mòn.Quá trình ăn mòn bắt đầu khi gỉ thép xuất hiện và phát triển trên bề mặt cốt thép và gây nứt tại những vị trí tiếp giáp với bê tông. Sự phát triển của vết nứt phát triển dần dưới sự tấn công của các tác nhân ăn mòn cho đến khi phá vỡ hoàn toàn sự kết dính giữa bê tông và cốt thép (spalling) như hình minh hoạ trên.

Tốc độ của quá trình carbonat hoá phụ thuộc vào tác động của các tác nhân từ môi trường như độ ẩm không khí, nhiệt độ, hàm lượng CO2 và tính chất cơ lý của bê tông như độ kiềm và độ thẩm thấu. Điều kiện lý tưởng thúc đẩy quá trình carbonat hoá hoạt động mạnh là khi độ ẩm không khí ở mức 60-75%. Hơn nữa, tốc độ quá trình carbonat hoá tăng dần khi hàm lượng CO2 trong không khí và nhiệt độ tăng dần. Mặt khác, hàm lượng xi măng là một yếu tố quan trọng để tăng độ kiềm và làm chậm quá trình carbonat hoá.

Ngoài ra, bề dày lớp bê tông bảo vệ cũng đóng vai trò quan trọng giảm quá trình ăn mòn Carbonat hoá là một quá trình chậm, đặc biệt khi nhiệt độ môi trường ở mức bình thường. Tốc độ của quá trình này có thể đo đạc được và ngăn chặn. Tuy nhiên, nó lại là vấn đề nghiêm trọng đối với những công trình có tuổi thọ cao (≥ 30 năm).

* Sự xâm nhập của ion clorua

Clorua có thể tồn tại trong hỗn hợp bê tông thông qua nhiều cách. Clorua có thể được đúc vào kết cấu thông qua phụ gia Ca
Cl2 (đã ngừng sử dụng), hoặc các ion clorua có thể tồn tại trong hỗn hợp cát, cốt liệu, nước, một cách vô tình hay cố ý. Tuy nhiên, nguyên nhân chính của hiện tượng ăn mòn do clorua trong hầu hết các công trình là do sự khuếch tán của ion clorua từ môi trường như:

• Kết cấu tiếp xúc trực tiếp với môi trường biển có nhiều muối;• Việc sử dụng muối làm tan băng hoặc các hợp chất hoá học có clorua.

Tương tự quá trình carbonat hoá, quá trình xâm nhập của clorua không trực tiếp ăn mòn cốt thép, ngoại trừ chúng phá vỡ lớp màng bảo vệ trên bề mặt cốt thép và thúc đẩy quá trình ăn mòn phát triển. Nói cách khác, clorua đóng vai trò như một chất xúc tác cho quá trình ăn mòn BTCT. Tuy nhiên, cơ chế ăn mòn do ion clorua khác quá trình carbonat hoá ở chỗ ion clorua xâm nhập qua lớp bê tông bảo vệ và tấn công cốt thép ngay cả khi độ p
H trong hỗn hợp vẫn ở mức cao (12-13).Ăn mòn cục bộ do sự tập trung của ion Cl- trên bề mặt cốt thép trong bê tông. Có bốn cơ chế xâm nhập của ion clorua qua lớp bảo vệ bê tông:

• Sức hút mao dẫn;

• Sự thẩm thấu do tập trung hàm lượng ion clorua cao trên bề mặt bê tông;• Thẩm thấu dưới áp căng bề mặt;

• Sự dịch chuyển do chênh lệch điện thế.

* Mối quan hệ tương hỗ giữa quá trình cacbonat hoá và sự xâm nhập của ion clorua

Trong thực tế, kết cấu BTCT thường xuyên làm việc dưới tác động hỗn hợp của cả hai cơ chế trên. Clorua aluminat (Al
Cl4-), được tạo ra từ phản ứng giữa ion clorua và xi măng có tác dụng làm giảm lượng clorua, qua đó làm chậm quá trình ăn mòn. Tuy nhiên, khi quá trình carbonat hoá làm giảm độ p
H trong bê tông, Al
Cl4- sẽ bị phá vỡ. Kết quả là những kết cấu chịu sự tác động của cả hai cơ chế trên đồng thời sẽ nhạy cảm hơn nhiều với ăn mòn và khó để kiểm soát hơn.

2. Nguyên nhân ăn mòn bê tông và kết cấu thép trong môi trường hoá chất.

Bê tông bị ăn mòn ở cả 3 môi trường rắn, lỏng và khí. Quá trình ăn mòn của bê tông chủ yếu là sự thay đổi thành phần hoá học của xi măng dưới tác dụng của các chất hoá học trong môi trường. Trong thành phần xi măng có các chất như Ca(OH)2 và C3AH6 dễ hoà tan, chúng tan vào nước làm cho cấu trúc bê tông bị rỗng do đó cường độ bê tông giảm và có thể bị phá huỷ. Mặt khác chúng có tính hoạt động hoá học mạnh, dễ tương tác với một số hợp chất hoá học của môi trường như axit, muối tạo thành các sản phẩm mới dễ hoà tan trong nước hơn hoặc nở thể tích nhiều, gây nội ứng suất phá hoại kết cấu bê tông. Trong các chất gây ăn mòn bê tông thì các axit và muối axit gây ra ăn mòn bê tông nhiều nhất và mạnh nhất. Bản chất của quá trình là do sự tác dụng của các muối khoáng hoá có tính chất kiềm trong bê tông với các muối axit hoặc axit (HNO3 , H2SO4, HCl..).

Các phản ứng diễn ra như sau:

Ca(OH)2 + H2SO4 hoặc (HNO3, HCl) = Ca
SO4 hoặc ( Ca
Cl2; Ca(NO3)2 ) + H2O

n
Ca
O.Si
O2 + p
H2SO4 + n
H2O = n
Ca
SO4 + m
Si(OH)4 + n
H2O

Các phản ứng với muối axit như Na2SO4;Mg
SO4:

Mg
SO4 + Ca(OH)2 + 2H2O = Ca
SO4.2H2O + Mg(OH)2

Khi môi trường có chứa muối Na2SO4 thì đầu tiên sunfat natri sẽ phản ứng với hydroxyt canxi theo phương trình:

Na2SO4 + Ca(OH)2 + 2H2O = Ca
SO4.2H2O + 2Na
OH

Sản phầm Ca
SO4.2H2O sau khi được tạo ra tăng thể tích gấp 2,34 lần so với Ca(OH)2. Sau khi được tạo ra, Ca
SO4.2H2O lại tương tác với 3Ca
O.Al2O3.6H2O tạo ra 3Ca
O.Al2O3.3Ca
SO4.31H2O (muối ettringit) theo phương trình:

3Ca
O.Al2O3.6H2O + Ca
SO4.2H2O + 19H2O = 3Ca
O.Al2O3.3Ca
SO4.31H2O

Muối Ettringit kết tinh nằm lại trong các lỗ rỗng của đá xi măng và bê tông, làm tăng thể tích gấp 4,8 lần so với tổng thể tích của các chất sinh ra nó. Chính vì sự nớ thể tích của các sản phẩm này mà cấu trúc của bê tông có thể bị phá vỡ gây hư hỏng công trình.

Khi các muối khoáng hoá mang tính kiềm bị phá huỷ sẽ tạo nên một hệ mao dẫn làm cho môi chất thấm sâu vào bên trong bê tông, khi các chất ăn mòn này tiếp xúc vơi cốt thép chúng sẽ tiếp tục ăn mòn thép theo các nguyên tắc ăn mòn kim loại như trong bài viết " nguyên nhân ăn mòn kim loại " .

Sau một thời gian bê tông và cốt thép bị ăn rỗng gây phá huỷ công trình, nguy hiểm nhất là các cọc bê tông cắm sâu xuống dưới đất để xây dựng các công trình ở môi trường biển và trong các nhà máy hoá chất, phân bón quá trình ăn mòn không thể nhìn thấy và kiểm tra được làm cho các công trình xây dựng trên nó có nguy cơ sụp lún, nghiêng đổ bất cứ khi nào tiềm tàng những hậu quả khó lường.

3. Biện pháp bảo vệ kết cấu bê tông cốt thép khỏi ăn mòn.

- Thay đổi thành phần khoáng hoá của xi măng, thêm bớt các phụ gia vào trong xi măng làm tăng độ chịu ăn mòn môi trường. Tuy nhiên khi thay đổi thành phần xi măng nó sẽ làm thay đổi tính chất kỹ thuật, tính cơ lý chung của xi măng làm giảm cường độ kết cấu công trình. Các nhà khoa học khuyến cáo phương pháp này chỉ dùng đối với các công trình có độ ăn mòn mạnh và kết cấu có yêu cầu độ chịu lực nhỏ.

- Nâng cao độ đặc chắc và độ dày của bê tông (lớp bảo vệ cốt thép). Chất lượng bê tông và việc tính toán hợp lý bề dày lớp bảo vệ cốt thép là những nhân tố đầu tiên giúp làm chậm quá trình ăn mòn cốt thép. Bê tông sử dụng phải có tỉ lệ nước/xi măng (w/c) đủ thấp để làm chậm quá trình xâm nhập của ion clorua và quá trình carbonat hoá qua các lỗ hổng trong kết cấu bê tông. Tỉ lệ nước/xi măng nên ≤ 0.5 để làm chậm quá trình carbonat hoá và ≤ 0.4 để hạn chế quá trình xâm nhập của clorua. Tiêu chuẩn của hiệp hội bê tông Hoa Kỳ ACI 318 khuyến cáo chiều dày lớp bảo vệ cốt thép ≥ 1.5 in. (38.1 mm) và lớn hơn ít nhất ≥ 0.75 in. (19.05 mm) so với kích thước cốt liệu thô trong hỗn hợp bê tông. Bên cạnh đó, ACI 357 khuyến cáo lớp bảo vệ cốt thép tối thiểu 2.5 in. (63.5 mm) đối với kết cấu cốt thép xây dựng trong môi trường biển.

Hàm lượng cốt thép đủ lớn có tác dụng kiềm chế sự phát triển và mở rộng vết nứt. Tiêu chuẩn ACI 224 kiến nghị bề rộng vết nứt cho phép không được vượt quá 0.006 in. (0.152 mm) cho kết cấu vật liệu trong môi trường biển.

Bê tông cần được đúc và dưỡng hộ một cách chính xác để hạn chế ăn mòn. Kết cấu cần được dưỡng hộ tối thiểu 07 ngày sau khi đúc ở nhiệt độ 21o
C (đối với bê tông có tỷ lệ nước/xi măng = 0.4) và lên đến 06 tháng đối với bê tông có tỷ lệ nước/xi măng = 0.6. Nhiều báo cáo khoa học đã chỉ ra rằng độ rỗng của bê tông giảm rõ rệt khi thời gian dưỡng hộ tăng lên, và tất nhiên khả năng chống ăn mòn cũng được cải thiện đáng kể.

- Những công nghệ chống ăn mòn khác thường được sử dụng cho kết cấu bê tông cốt thép bao gồm sử dụng các màng ngăn chặn sự xâm thực của nước, của các muối, các axit. Các màng ngăn như sơn polime lên bề măt bê tông, quét epoxy, quét lớp bitum, dán cao su... Khi đổ bê tông, sử dụng cốt thép mạ kẽm, cốt thép phủ epoxy, sử dụng thép không gỉ và đặc biệt là phương pháp “cathodic protection”. Cơ chế hoạt động của phương pháp “cathodic protection” (dùng dương cực tan-vật liệu ăn mòn thay cho cốt thép trong môi trường nước) dựa trên việc sử dụng các điện cực thay thế để ăn mòn và giúp bảo vệ cốt thép trước các tác nhân từ môi trường, đặc biệt là môi trường tiếp xúc nhiều với muối biển.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.